Để thực hiện khoản 1 và 5 điều 50 của Luật giao thông đường bộ, nhằm đáp ứng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, tất cả các loại xe ô tô tham gia giao thông đường bộ phải thực hiện quy định về bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chưã do Bộ Giao thông vận tải ban hành, hoặc hướng dẫn về bảo dưỡng kỹ thuật của nhà sản xuất.
8.1 - MỤC ĐÍCH, TÍNH CHẤT CỦA BẢO DƯỠNG KỸ THUẬT XE Ô TÔ
Bảo dưỡng kỹ thuật xe ô tô nhằm mục đích duy trì tình trạng kỹ thuật luôn luôn tốt, giảm cường độ hao mòn các chi tiết, ngăn ngừa và phát hiện kịp thời hư hỏng của các cụm, tổng thành, hệ thống ..., để có biện pháp khắc phục kịp thời.
Bảo dưỡng kỹ thuật xe ô tô có tính chất cưỡng bức, dự phòng và có kế hoạch.
8.2 - NỘI DUNG VÀ PHÂN CẤP BẢO DƯỠNG KỸ THUẬT
Nội dung của bảo dưỡng kỹ thuật xe ô tô bao gồm các công việc: Làm sạch, kiểm tra, xiết chặt, điều chỉnh, bôi trơn, bổ sung nhiên liệu, nước làm mát.
- Bảo dưỡng kỹ thuật ô tô được chia làm hai cấp:
- Bảo dưỡng kỹ thuật thường xuyên (bảo dưỡng kỹ thuật hàng ngày) chủ yếu do lái, phụ xe hoặc do các trạm bảo dưỡng sửa chữa thực hiện.
- Bảo dưỡng kỹ thuật định kỳ: Do các trạm bảo dưỡng sửa chữa được đầu tư thiết bị, có đủ thợ lành nghề và chuyên gia kỹ thuật thực hiện.
8.3 - BẢO DƯỠNG KỸ THUẬT THƯỜNG XUYÊN
Bảo dưỡng kỹ thuật thường xuyên được thực hiện trước hoặc sau mỗi ngày hoạt động của xe, hoặc trong thời gian xe hoạt động. Bảo dưỡng kỹ thuật thường xuyên bao gồm các phần việc: Bảo dưỡng mặt ngoài xe (quét dọn, rửa, lau chùi); Kiểm tra, điều chỉnh xiết chặt các bộ phận bắt nối, bổ xung thêm nhiên liệu, dầu bôi trơn và nước làm mát động cơ.
Thực hiện tốt bảo dưỡng kỹ thuật thường xuyên sẽ mang lại những lợi ích thiết thực sau:
- Nâng cao độ tin cậy và kéo dài tuổi thọ của xe;
- Tiết kiệm được nhiên liệu;
- Tạo điều kiện để lái xe an toàn.
8.3.1 - Bảo dưỡng kỹ thuật mặt ngoài
Việc bảo dưỡng kỹ thuật mặt ngoài đúng phương pháp sẽ làm cho xe ôtô sạch sẽ, bóng, đẹp và có khả năng chống ăn mòn.
Những nguyên nhân chủ yếu gây ăn mòn là:
- Sự tích tụ của muối, bụi bẩn và hơi ẩm ở những vị trí khó quan sát;
- Lớp sơn ngoài hoặc lớp sơn lót bị tróc do các va chạm.
Để tránh ăn mòn phải rửa xe thường xuyên bằng nước sạch, không dùng các hoá chất tẩy rửa. Nếu sử dụng xe ở vùng nhiều chất muối phải phun rửa gầm xe ít nhất mỗi tháng một lần.
Nên sử dụng dầu đánh bóng hoặc sáp đánh bóng để giữ cho vỏ xe ôtô có độ bóng đẹp như mới.

8.3.2 - Kiểm tra, bảo dưỡng động cơ và gầm xe.
8.3.2.1 - Kiểm tra, bổ xung mức dầu bôi trơn động cơ.
Việc kiểm tra và bổ xung dầu bôi trơn thường xuyên là rất cần thiết vì nó kéo dài tuổi thọ của động cơ. Khi kiểm tra, xe ôtô cần đỗ trên đường bằng phẳng và ở thời điểm dầu bôi trơn đã về hết các te chứa dầu.
Phương pháp kiểm tra được tiến hành như sau:
- Rút thước thăm dầu ra và dùng một miếng giẻ để lau sạch;
- Cắm lại thước thăm dầu ở mức sâu hết hành trình;
- Rút thước thăm dầu ra và kiểm tra mức dầu bám trên phần cuối của thước.
Mức dầu nằm ở giữa vạch ''MIN'' và vạch ''MAX'' là phù hợp.
Nếu mức dầu ở dưới hoặc chỉ ở trên vạch ''MIN'' một chút, cần đổ thêm dầu cùng loại với dầu đang dùng trong động cơ.
Tránh đổ dầu quá đầy (Vượt qúa vạch ''MAX'') vì khi đó dễ gây muội than làm giảm tuổi thọ động cơ.
Sau khi đổ thêm dầu cần kiểm tra mức dầu trên thước thăm dầu một lần nữa.

8.3.2.2 - Kiểm tra, bổ sung nước làm mát động cơ
Để tránh bị bỏng, không được mở nắp két nước để kiểm tra khi nước trong két nước còn đang sôi;

Mức nước làm mát được coi là đủ nếu nó nằm giữa vạch “MIN” và “MAX” ghi trên bình nước phụ.
Nếu mức nước thấp dưới vạch “MIN” thì phải đổ thêm nước làm mát, cùng với loại nước đang dùng trong hệ thống.
Nước làm mát phải là nước sạch, hoặc nước sạch pha thêm chất chống ăn mòn.

8.3.2.3 - Kiểm tra, xả nước trong bộ lọc nhiên liệu
Nhiên liệu dùng trong động cơ thường lẫn nước và cặn bẩn, do vậy cần kiểm tra và xả nước cũng như cặn bẩn trong bộ lọc nhiên liệu ra ngoài.
Khi đèn báo của bộ lọc nhiên liệu sáng lên và còi kêu hoặc khi kiểm tra thấy có nước và cặn bẩn, trong bộ lọc nhiên liệu cần phải tháo và xả ra ngay.
Đặt một khay nhỏ dưới nút xả để hứng nước. Vặn nút xả ngược chiều kim đồng hồ khoảng từ 2 đến 2,5 vòng ( Nếu vặn quá sẽ gây rỉ nước xung quanh nút xả ).
Vận hành bơm xả cho đến khi nhiên liệu bắt đầu chảy ra. Sau khi xả, vặn chặn lại nút xả.

8.3.2.4 - Kiểm tra, xả không khí lẫn trong hệ thống nhiên liệu động cơ Diesel
Cần kiểm tra và xả không khí (xả air) lẫn trong hệ thống nhiên liệu đông cơ Diesel.
Thực hiện xả không khí theo trình tự sau:
- Xoay nắp ở bơm tay nhiên liệu theo chiều ngược chiều kim đồng hồ;
- Bơm nhiên liệu cho đến khi thấy căng tay. Giữ tay bơm (Như hình 8.4) và nới nút xả không khí của bộ lọc thô (lần 1) sau đó đóng nhanh nút xả không khí;
- Làm lại bước xả không khí cho đến khi nhiên liệu hết bọt;
- Xả không khí bộ lọc tinh (lần 2) và bơm dầu theo các bước như bộ lọc thô;
Sau khi xả không khí phải vặn chặt các nút xả lại

8.3.2.5 - Kiểm tra, điều chỉnh dây đai
Phải kiểm tra chất lượng và điều chỉnh độ căng của các dây đai dẫn động trong lúc động cơ không hoạt động.
Nếu dây đai bị rạn nứt, bong sờn, mòn quá mức, biến đổi màu phải thay thế bằng dây đai cùng loại;

Kiểm tra độ căng của dây đai bằng cách ấn ngón tay cái vào đúng điểm giữa dây đai một lực khoảng 10 kg, độ võng xuống không vượt quá độ võng cho phép quy định cho từng loại xe (khoảng 10mm). Nếu dây đai chùng hoặc căng quá phải điều chỉnh để bảo đảm độ căng đúng quy định (đối với động cơ có bộ tăng dây dai tự động, khi dây đai chùng quá ngưỡng của bộ tăng dây đai, cần thay dây đai mới).
8.3.2.6 - Kiểm tra áp suất hơi lốp
Áp suất hơi lốp không đảm bảo tiêu chuẩn có thể làm giảm tuổi thọ của lốp và làm cho xe chuyển động không an toàn.
Áp suất hơi lốp thấp làm lốp mòn nhanh, tăng tiêu hao nhiên liệu. áp suất hơi lốp cao làm xe xóc, và dễ nổ lốp. Vì vậy, cần phải kiểm tra áp suất hơi lốp.
Khi kiểm tra áp suất hơi lốp cần tuân theo các hướng dẫn sau: + Chỉ được kiểm tra áp suất hơi lốp khi lốp nguội (không nóng); + Dùng đồng hồ đo áp suất hơi lốp để kiểm tra;
+ Không được xì hay giảm áp suất hơi lốp khi xe vận hành; + Sau khi kiểm tra áp suất hơi lốp cần đậy các nắp van bơm hơi lốp.
8.3.2.7 - Kiểm tra, thay thế và đảo lốp xe.
Kiểm tra độ mòn của lốp bằng cách xem chiều sâu của các rãnh hoa lốp đã chạm vạch giới hạn mòn chưa. Nếu lốp đã bị mòn phải thay lốp mới.
Hàng ngày phải thường xuyên kiểm tra các lốp xem chúng có bị nứt hoặc rạn không. Khi người lái xe thấy hiện tượng lốp mòn không đều trên hinh 8-7, cần đưa xe đến các trạm bảo dưỡng sửa chữa để tìm nguyên nhân gây mòn lốp xe không đều. Khi lốp mòn ở hai bên nhiều hơn như hình (b) áp suất lốp thấp hơn quy định của nhà sản xuất. Khi lốp mòn ở giữa nhiều hơn, áp suất lốp lớn hơn áp suất quy định của nhà sản suất
Khi lốp mòn một bên như hình (c, d, e, f, g) hệ thống lái và gầm có độ rơ lớn hơn quy định. Cần đưa xe đến xưởng bảo dưỡng để kiểm tra và khắc phục.
Khi thay thế một lốp mới, chỉ được dùng lốp cùng cỡ, cùng kết cấu như chiếc lốp cũ.

8.3.2.8 - Kiểm tra, siết chặt các đai ốc bánh xe
Các đai ốc bánh xe bên phải có ren phải và các đai ốc bánh xe bên trái có ren trái.
Khi kiểm tra và xiết chặt các đai ốc bánh xe hoặc khi đảo lốp phải xiết chặt các đai ốc theo đúng quy định về ren (trái, phải) và về thứ tự (hình 8.9).

8.3.2.9 - Kiểm tra, bổ sung dung dịch rửa kính chắn gió phía trước

Phải kiểm tra mức dung dịch trong bình đựng dung dịch phun rửa kính chắn gió phía trước. Nếu mức dung dịch không đủ phải bổ xung đúng loại dung dịch rửa kính chắn gió, không dùng dung dịch làm mát động cơ để thay thế, không trộn lẫn nước thường với dung dịch rửa kính.
Trình tự thực hiện:
- Mở nắp khoang máy (ca pô): Tìm lẫy mở nắp khoang máy, kéo lẫy để mở như hình vẽ (a) ;
- Mở nắp khoang máy, chống nắp khoang máy như hình vẽ (b);
- Tìm nắp bình chứa dung dịch rửa kính (hình c);
- Thực hiện đổ thêm dung dịch rửa kính nếu thiếu như hình (d).
- Thực hiện kiểm tra như hình (đ)
8.3.2.10 - Kiểm tra, bổ sung dầu ly hợp
Dầu phanh và dầu ly hợp, trong qúa trình sử dụng bị hao hụt, vì vậy phải kiểm tra và bổ sung thêm cho đủ mức quy định. Mức dầu trong bình chứa không được quá vạch '' MAX'' và cũng không được dưới vạch '' MIN'' ghi trên bình đựng dầu.

8.3.2.11 - Kiểm tra, bổ sung mức dầu trợ lực lái.
Kiểm tra mức dầu bằng thước đo, nếu mức dầu không đủ phải bổ sung đúng loại dầu trợ lực lái. Nếu kiểm tra khi dầu lạnh, mức dầu phải ở vị trí ''COLD'' (lạnh).Nếu kiểm tra khi dầu nóng mức dầu phải ở vị trí '' HOT'' ( nóng). Nếu thiếu phải bổ sung cho đủ mức quy định.

8.3.2.12 - Kiểm tra điều chỉnh sự hoạt động của vô lăng lái
Việc kiểm tra được tiến hành khi ô tô đứng yên. Quay nhẹ vô lăng lái về hai phía, độ dơ góc không được lớn hơn quy định đối với từng loại xe ô tô ( từ 25 đến 40 mm).
Nếu độ dơ góc lớn hơn quy định phải đưa xe ô tô vào trạm bảo dưỡng, sửa chữa để thợ lành nghề điều chỉnh lại.

8.3.2.13 - Kiểm tra, điều chỉnh phanh tay
Kéo từ từ cần điều khiển phanh tay tới mức có thể và đếm số lượng nấc phanh tay khi kéo (với lực kéo khoảng 20 KG). Nếu số nấc đếm được khoảng 7 đến 9 là tốt. Nếu đếm được nhiều hoặc ít hơn phải đưa xe ô tô cho thợ điều chỉnh lại.

8.3.2.14 - Kiểm tra, điều chỉnh hành trình của bàn đạp ly hợp
Việc kiểm tra hành trình tự do của bàn đạp ly hợp được tiến hành khi ô tô đứng yên. Dùng ngón tay ấn nhẹ xuống bàn đạp cho đến khi thấy nặng tay thì dừng lại. Sau đó đo khoảng dịch chuyển của bàn đạp,đó chính là hành trình tự do. Hành trình tự do phải ở trong giới hạn từ 15 mm đến 30 mm. Nếu hành trình tự do cao hay thấp hơn mức quy định thì phải điều chỉnh lại.
Việc kiểm tra hành trình làm việc toàn bộ của bàn đạp ly hợp đƣợc tiến hành khi ô tô đứng yên. Dùng chân đạp mạnh vào bàn đạp cho đến khi hết hành trình thì dừng lại. Đo khoảng cách dịch chuyển nêu trên, đó chính là hành trình làm việc toàn bộ của ly hợp. Hành trình làm việc toàn bộ của bàn đạp ly hợp cần phải nhỏ hơn khoảng cách từ mặt sàn buồng lái tới mặt trên của bàn đạp ly hợp. Nếu điều kiện trên không đảm bảo cần phải điều chỉnh lại và phải căn cứ vào quy định của từng loại xe.

8.3.2.15 - Kiểm tra, điều chỉnh hành trình của bàn đạp phanh
Việc kiểm tra hành trình tự do của bàn đạp phanh được tiến hành khi ôtô đứng yên. Trước khi kiểm tra hành trình tự do cần xả hết không khí lẫn trong dầu phanh ra ngoài (đối với phanh dầu). Khi kiểm tra,dùng ngón tay ấn nhẹ xuống bàn đạp cho đến khi thấy nặng tay thì dừng lại. Sau đó, đo khoảng dịch chuyển của bàn đạp, đó chính là hành trình tự do. Hành trình tự do của bàn đạp phanh thường ở trong giới hạn từ 3 mm đến 6 mm. Nếu hành trình tự do cao hay thấp hơn mức quy định thì phải điều chỉnh lại.
Việc kiểm tra hành trình làm việc toàn bộ của bàn đạp phanh được tiến hành khi ôctô đứng yên. Dùng chân đạp mạnh vào bàn đạp cho đến khi hết hành trình thì dừng lại. Đo khoảng cách dịch chuyển nêu trên, đó chính là hành trình làm việc toàn bộ của bàn đạp phanh. Hành trình làm việc toàn bộ của bàn đạp phanh cần phải nhỏ hơn khoảng cách từ mặt sàn buồng lái tới mặt trên của bàn đạp phanh. Nếu điều kiện trên không đảm bảo cần phải điều chỉnh lại và phải căn cứ vào quy định của từng loại xe.

8.3.3 - Bảo dưỡng các thiết bị điện
8.3.3.1 - Kiểm tra bình điện (ắc quy)
Khi kiểm tra tình trạng và mức dung dịch của ắc quy cần thực hiện theo các nội dung sau:
- Kiểm tra độ mòn của các đầu cực ắc quy;
- Kiểm tra và vặn chặt đai ốc ở đầu cực ắc quy;
- Khi thấy xuất hiện bột màu trắng hoặc xanh trên bề mặt của cực ắc quy phải rửa sạch bằng dung dịch nứơc ấm hoặc Soda. Sau đó lau sạch các đầu cực bằng nước thường rồi dùng ải hoặc giấy để lau khô. Phủ lên đầu cực một lớp mỡ đặc biệt để tránh hiện tượng oxy hóa
- Kiểm tra ắc qui xem có bị rạn nứt hay không. Nếu bị rạn nứt phải thay thế bằng ắc quy cùng loại;
- Kiểm tra mức dung dịch điện phân, nếu mức dung dịch điện phân thấp hơn “mức thấp” phải mở nút thông hơi đổ thêm nước cất vào tất cả các ngăn và không đổ vượt quá “mức cao“. Sau khi đã bổ sung đủ vặn nút thông hơi lại cẩn thận;
- Nếu không có vạch mức dung dịch điện phân trên ắc quy, thực hiện đổ bổ sung dung dịch cách mặt nắp bình ắc quy 10 mm.
Đối với xe ô tô sử dụng ắc quy bảo dưỡng tự do (MF) không có nút làm kín, không cần kiểm tra bảo dưỡng như các ắc quy thông thường khác, chỉ cần kiểm tra tình trạng của ắc quy qua “ mắt kiểm tra “ trên đỉnh ắc quy như hình 8.19.

8.3.3.2 - Kiểm tra, và thay thế cầu chì
Nếu đèn pha hoặc các bộ phận tiêu thụ điện khác không hoạt động, cần phải kiểm tra các cầu chì. Vị trí cầu chì phụ thuộc vào bố trí chung của từng loại xe ô tô.
Để thay thế cầu chì cần tháo nắp hộp và tìm cầu chì bị hư hỏng để thay thế. Chỉ thay thế cầu chì mới sau khi đã khắc phục được nguyên nhân gây ra cháy nó.
Chỉ được sử dụng loại cầu chì đúng tiêu chuẩn, việc sử dụng cầu chì khác loại hoặc không đúng trị số có thể gây ra những hư hỏng khác cho hệ thống điện.


8.3.3.3. Thay thế bóng đèn.
a) Thay thế bóng đèn pha:
Khi thay thế bóng đèn phải cắt điện và không nên cầm vào phần thuỷ tinh của bóng đèn.

Tháo bóng đèn:
- Tháo Jack điện khỏi bóng đèn;
- Đẩy lẫy 1 theo chiều mũi tên như trong hình;
- Tháo bóng đèn 3 khỏi bích lắp đèn.
Lắp bóng đèn:
- Lắp bóng đèn sao cho chân đèn và bích đèn khớp vào nhau (3 vấu trên chân đèn khớp với 3 rãnh trên bích đèn);
- Gài lẫy 1 vào đúng vị trí. - Lắp Jack cấp nguồn cho bóng điện (chú ý các chân bóng đèn khớp với Jack nguồn).
b) Thay thế bóng đèn hậu

8.3.3.4. Thay thế lọc gió của hệ thống điều hòa không khí
Hệ thống điều hòa không khí được lấy gió một phần từ phía ngoài đi qua lọc gió để vào khoang hành khách, qua quá trình sử dụng bụi bẩn được giữ lại lọc gió làm giảm lưu lượng gió thông qua lọc gió, do vậy định kỳ lọc gió cần được kiểm tra làm sạch và thay thế.
Khi bật hệ thống điều hòa không khí trong xe, đặt mức gió ở mức cao nhất, lắng nghe âm thanh phát ra từ quạt gió “ù ù” tuy nhiên gió thoát ra từ các cửa gió rất ít, lúc này lọc gió của hệ thống điều hòa đã bị tắc do có quá nhiều bụi bẩn bám vào như hình (b), Người lái xe cần vệ sinh lọc gió hoặc thay thế nếu cần.


Cách tháo lắp lọc gió hệ thống điều hòa không khí:
Tra sổ tay hướng dẫn sử dụng xe (tùy theo nhà sản xuất) để tìm vị trí lắp đặt lọc gió, tháo lọc gió khỏi xe như hình (a), kiểm tra, vệ sinh lọc gió hoặc thay thế nếu cần thiết, lắp lọc gió, kiểm tra sự hoạt động.
8.3.3.5. Thay thế lọc gió hệ thống nạp của động cơ
Lọc gió hệ thống nạp của động cơ nhằm để lọc bụi chất bẩn không đi vào động cơ, do vậy sau một thời gian sử dụng bụi bẩn bám vào lọc gió làm giảm lưu lượng gió thông qua lọc, gây thiếu không khí đi vào buồng đốt động cơ làm giảm hiệu suất động cơ và tốn nhiên liệu hơn. Định kỳ phải vệ sinh hoặc thay thế lọc gió nhằm đảm bảo động cơ hoạt động ổn định và đạt hiệu suất cao.

Cách tháo lắp lọc gió hệ thống nạp động cơ:
- Tìm hộp chứa lọc lọc hình (a)
- Mở các lẫy gài như mũi tên hình (a)
- Mở nắp hộp chứa lọc gió như hình (b)
- Lấy lọc gió ra khỏi hộp và kiểm tra, vệ sinh;
- Thay thế bằng lọc mới như hình (d)
- Lắp nắp hộp và gài các lẫy gài như hình (a).
8.4 - BẢO DƯỠNG KỸ THUẬT ĐỊNH KỲ
Bảo dưỡng kỹ thuật định kỳ được thực hiện sau một chu kỳ nhất định (được tính bằng thời gian hoặc quãng đường xe chạy). Chu kỳ và nội dung bảo dưỡng kỹ thuật do cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành hoặc do nhà sản xuất quy định.
Nội dung bảo dưỡng kỹ thuật định kỳ do thợ và cán bộ kỹ thuật ở các trạm bảo dưỡng, sửa chữa thực hiện.



